Dân Tộc Tự Quyết - Dân Quyền Tự Do -
Dân Sinh Hạnh Phúc
MẠNG LIÊN KẾT:

RADIO:
World Khmer Radio
VOKK Radio
RFA Khmer
VOA Khmer
RFI Radio France
SBK Radio 105 FM

KHMER NEWS WEBSITES
Khmer Kampuchea-Krom Federation
Prey Nokor News
KI-Media
Mọi thông tin xin liên
lạc email dưới đây: info@Khmerland.org
KHMERLAND
KHMER-KROM KARAOKE
và âm nhạc = Khmer ngữ
Đài Tiếng Nói Kampuchea-Krom
Phát Thanh từ Hoa Kỳ VOKK
Cờ của 65 Thành Viên trong Tổ Chức UNPO
Sau Bức Màn Đỏ
     Hậu trường chính trị Việt Nam sau 1975
      Hoàng Dung
Phụ lục 1:

CHIẾN DỊCH XÂM CHIẾM CAMPUCHIA 1979

Sau trận tấn công của quân Việt Nam vào nội địa Campuchia cuối 1977, Campuchia cắt đứt quan hệ ngoại giao giữa hai nước, công khai tranh chấp và tăng cường quân đội ở biên giới. Bị tố cáo là xâm lược, quân Việt Nam phải rút về nước ngày 6-1-1978.

Những sư đoàn 703, 301... của Campuchia từ các quân khu Tây Nam và trung ương mới đến tăng cường bắt đầu cuộc thanh trừng nội bộ quân khu Ðông. Vì thế, tình hình chiến sự ở vùng biên giới Tây Ninh tương đối lắng dịu một thời gian. Tuy nhiên, ở biên giới cực nam, ngay từ đầu tháng 1-1978, các đơn vị thuộc sư đoàn 2 và 210 quân khu Tây Nam của Campuchia đã tấn công và chiếm đóng các xã Phú Cường, Khánh An, Khánh Hòa, Khánh Bình và các quận lỵ Hồng Ngự, Hà Tiên thuộc lãnh thổ quân khu IX Việt Nam.

Phòng thủ biên giới quân khu IX là những đơn vị cơ hữu của quân khu, gồm các sư đoàn 4, 8, 330, cùng những trung đoàn chủ lực tỉnh Hậu Giang, Ðồng Tháp. Tư lệnh quân khu lúc đầu là Lê Đức Anh, tư lệnh phó Trần Nghiêm. Sau khi Lê Đức Anh thay Trần Văn Trà, Trần Nghiêm lên làm tư lệnh quân khu IX.

Lúc đó mặt trận quân khu VII đang yên tĩnh, nên sư đoàn chính qui 341 do Vũ Cao tư lệnh ở Tây Ninh được điều động đến tăng phái cho quân khu. Với lực lượng này, và nhờ sự yểm trợ của không quân, pháo binh, thiết giáp, trực thăng võ trang..., sau hai tháng hành quân, quân khu IX tái chiếm được những lãnh thổ đã mất. Sư đoàn 341 trở lại nằm trong đội hình quân đoàn 4, trấn đóng phía tây và tây nam Tây Ninh.

Thời gian này, cuộc thanh trừng nội bộ của quân khu Ðông trở nên gay gắt. Ngày 24-5-1978, đơn vị của Ke Pauk thuộc quân khu Trung Ương kéo đến bao vây tổng hành dinh quân khu Ðông tại Suong, bắt giam các sĩ quan chỉ huy. Một số đơn vị của sư đoàn 4 trốn thoát vào rừng và nhiều cuộc chạm súng đã xảy ra giữa các toán quân này và quân Trung Ương. Trong số lực lượng đồn trú tại quân khu Ðông, sau cuộc thanh trừng, sư đoàn 4 coi như biến mất, các sư đoàn 3, 5, 280 bị suy yếu hẳn. Lợi dụng tình thế, giữa năm 1978, quân đội Việt Nam được lệnh mở cuộc hành quân mới tiến sâu vào lãnh thổ Campuchia để “mở rộng địa bàn, mở rộng hành lang liên kết với các lực lượng nổi dậy ở nhiều nơi, giúp đỡ lực lượng nổi dậy tạo thế và lực...” và quân đoàn 4 được lệnh “tiêu diệt sư đoàn 290, kiềm chế sư đoàn 3, phát triển đánh sư đoàn 703 ở Kompong Trach, mở rộng hành lang giúp lực lượng bạn nổi dậy”.

Ngày 15-6-1978, chiến dịch bắt đầu. Các sư đoàn 7, 9, 341 cùng các đơn vị yểm trợ lại tràn qua biên giới, chiếm một giải đất sâu trong nội địa Campuchia từ 10 đến 40 cây số, trong đó có quận lỵ Prasaut. Lúc đó là mùa mưa, Campuchia tăng cường thêm nhiều sư đoàn từ các quân khu khác đến để phản công. Từ Prasaut, quân Việt Nam phải lùi về Chipru, và tới tháng 8, phải điều động thêm sư đoàn 2 từ quân khu V đến tăng cường cho quân đoàn 4. Mùa mưa năm đó, trời bị lụt lội, hai bên giữ nguyên tình trạng dằng co cho đến tháng 11. Trong mấy tháng này, quân Việt Nam đã giải thoát thêm cho một số binh lính và dân chúng của quân khu Ðông đang trốn tránh, tăng cường cho một mặt trận giải phóng bù nhìn mà Việt Nam mới thành lập.

Cuối mùa mưa 1978, tại mặt trận phía bắc Tây Ninh, do bộ tư lệnh quân khu VII phụ trách, sư đoàn 303 cơ hữu quân khu đang đồn trú ở Phước Long được đưa lên phối hợp với sư đoàn 5 và sư đoàn 302 để sửa soạn chiếm đóng thị xã Snoul, nơi Việt Nam dự định dùng làm địa điểm cho lễ ra mắt của “Mặt Trận Ðoàn Kết Dân Tộc Cứu Nước Campuchia”. Snoul là một thị xã nằm trên ngã tư quốc lộ 13 và quốc lộ 7, trước kia đã là một mật khu an toàn của CSVN. Phòng thủ Snoul là sư đoàn 260 Campuchia.

Chiến dịch này bắt đầu ngày 13-11-1978. Trong những ngày đầu, quân Việt Nam tổn thất nặng, nhưng nhờ ở quân số và hoả lực mạnh hơn, sau đó Việt Nam cũng chiếm được Snoul, cùng với một đoạn đường của quốc lộ 7 trên hướng đi tới Mimot. Chiếm được Snoul, Việt Nam đưa sư đoàn 476 công binh đến khai quang một khoảng đất rộng trong vùng rừng núi gần đó, thiết lập khán đài, sửa soạn cho lễ ra mắt Mặt Trận Giải Phóng Campuchia do Việt Nam đỡ đầu.

Sáng ngày 2-12-1978, một đoàn xe vận tải chở khoảng hơn một ngàn dân tị nạn Campuchia tới địa điểm hành lễ để hoan hô và trương biểu ngữ. Nơi đây, ba tiểu đoàn binh lính Campuchia thuộc lữ đoàn 778, một đơn vị quân sự gồm toàn người Campuchia do Việt Nam thành lập, đã đứng xếp hàng dàn chào. Xung quanh đó, bộ đội Việt Nam, gồm cả xe tăng và súng phòng không được bố trí bảo vệ. Buổi lễ được đặt dưới quyền giám sát của Lê Đức Thọ. Mười bốn ủy viên của Mặt Trận Dân Tộc Cứu Nước Campuchia được giới thiệu, và Heng Samrin được cử làm chủ tịch Mặt Trận, kiêm tư lệnh lữ đoàn 778.

Từ cuối tháng 11, khi mùa mưa chưa dứt hẳn, sau khi đã ký hiệp ước thân hữu với Thái Lan, Campuchia dồn hết 19 trong 23 sư đoàn cơ hữu ra biên giới phía đông, liên tiếp phản công và tái chiếm những vị trí đã mất dọc biên giới Tây Ninh, đồng thời pháo kích và tấn công nhiều vị trí từ Ðức Cơ (Pleiku) tới Hà Tiên (An Giang). Quân Việt Nam, bề ngoài chỉ phản ứng thụ động, nhưng bên trong, âm thầm chuẩn bị cuộc tổng tấn công quyết định. Lương thực, đạn dược ngày đêm chở đến biên giới. Quân đoàn 3 Tây Nguyên được tăng cường ở Pleiku, Ban Mê Thuột. Quân đoàn 2 Hương Giang từ Lào và quân khu IV được đưa xuống An Giang, Kiên Giang. Vì thiếu cơ phận thay thế, các phi cơ cũ A37 và F5 của Việt Nam Cộng Hòa bỏ lại không dùng được nữa. Thay vào đó là những phi cơ Mig 21 do Nga mới viện trợ đưa từ Hà Nội và Ðà Nẵng vào. Bộ đội được học tập để chuẩn bị cho cuộc chiến xâm lăng và chiếm đóng, gồm có những bài học “Phương pháp giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam”, “Chín điều qui định đối với lực lượng võ trang chiến đấu tại biên giới Tây Nam”, “Công tác địch vận”, và “Sáu điều kỷ luật về công tác dân vận quốc tế”. Cuối tháng 12 năm 1978, về quân sự, Việt Nam đã sẵn sàng.

Tuy Việt Nam quyết định sẽ mở cuộc tấn công qui mô trên toàn tuyến biên giới vào những ngày cuối năm, nhưng ngày giờ xuất phát từ Pleiku, Ban Mê Thuột, Tây Ninh hay Hà Tiên không xảy ra đồng thời, và cho đến nay, ngoài bộ chỉ huy đầu não của CSVN hay bộ tổng tham mưu quân đội, không ai biết chắc về mục tiêu ban đầu của cuộc tổng tấn công. Có lẽ mới đầu Việt Nam chỉ muốn chiếm đóng phần đất phiá đông sông Cửu Long, cố gắng giải thoát Sihanouk, đặt ông này vào chức vụ chủ tịch Mặt Trận để lãnh đạo cuộc chiến lật đổ Pol Pot. Vì thế, ngày 2-1-1979, một toán đặc công vượt sông Cửu Long đến Nam Vang định bắt cóc Sihanouk. Toán đặc công này bị phát giác và tiêu diệt. Ngoài ra, sau khi chiếm phần lãnh thổ phía đông sông Cửu Long của Campuchia ngày 4-1-1979, đà tấn công của quân Việt Nam đã lơi đi trong nhiều giờ, có lẽ để chờ lệnh từ Hà Nội. Một ủy viên trong ban thường vụ Mặt Trận Giải Phóng Campuchia là Chia Soth tiết lộ với Stephen Haden năm 1981:“Chúng tôi chỉ định chiếm phân nửa lãnh thổ bên này sông Cửu Long, còn nửa bên kia để lại cho Pol Pot”. Một ủy viên khác, Heng Samin cũng tiết lộ: “Nhưng rồi khi chúng tôi tấn công và truy kích, thấy dễ dàng quá, chúng tôi cứ tiến mãi”.

Tuy ở một tình thế chính trị và ngoại giao khó khăn, Việt Nam tin vào khả năng quân sự và tuyên truyền của mình nên quyết định cuộc hành quân phải thần tốc để đặt dư luận thế giới trước một sự đã rồi. Vì thế, họ huy động một quân số tới gần hai trăm ngàn quân, sử dụng ba trong bốn quân đoàn chính qui, và một lực lượng yểm trợ hùng hậu gồm đủ hải quân, không quân, thiết giáp, hoả tiễn.... Lê Đức Thọ giám sát tổng quát cuộc hành quân. Lê Đức Anh làm tư lệnh chiến dịch hay còn gọi là tư lệnh “đội quân tình nguyện”.

Cuộc tấn công chính thức bắt đầu 12 giờ khuya đêm Giáng Sinh 1978, khi Chu Huy Mân, tổng cục trưởng tổng cục chính trị bắn phát súng xuất quân tại Ban Mê Thuột, nhưng trên thực tế, đã mở màn từ hôm trước, khi sư đoàn 2 cùng trung đoàn chủ lực tỉnh Tây Ninh mở cuộc tấn công cố đánh bật các trung đoàn 23 thuộc sư đoàn 304 và trung đoàn 13, sư doàn 221 của Campuchia khỏi các vị trí dọc tỉnh lộ 13 sát biên giới.

Theo kế hoạch, quân Việt Nam tràn qua biên giới bằng nhiều hướng. Từ vùng cao nguyên, các đơn vị của quân khu V và quân đoàn 3 Tây Nguyên do tướng Kim Tuấn chỉ huy đánh dọc quốc lộ 19 và 14 chiếm Stung Treng và lãnh thổ đông bắc Campuchia. Tướng Kim Tuấn từng là tư lệnh sư đoàn 320-B năm 1975. Quân đoàn 3 gồm các sư đoàn 10, 320, 31... có thể đã được các đơn vị Việt Nam trú đóng bên Lào giúp đỡ. Ngày 3-1-1979, quân Việt Nam chiếm được Stung Treng.

Mũi tấn công thứ hai xuất phát từ mặt bắc tỉnh Tây Ninh, gồm những sư đoàn cơ hữu của quân khu VII như sư đoàn 303, 302, 5, được tăng cường thêm một số đơn vị của quân đoàn 3 như lữ đoàn 12 thiết giáp, cùng những trung đoàn chủ lực các tỉnh Tây Ninh, Long An, Sông Bé, các trung đoàn 262 pháo binh, trung đoàn 26 thiết giáp, tiến quân  theo quốc lộ 13 và quốc lộ 7 đánh vào Kratié và Kompong Cham.

Hướng thứ ba là hướng tấn công chủ yếu do các sư đoàn 2, 7, 9, 341 của quân đoàn 4 cùng lữ đoàn 22 thiết giáp, lữ đoàn 24 pháo binh, lữ đoàn 25 công binh, xuất phát từ phía tây và tây nam Tây Ninh, sau khi đã tái chiếm những vị trí trên tỉnh lộ 13, tiến dọc theo trục quốc lộ 1 về hướng tây, nhằm đánh bến phà chiến lược Neak Luong. Hướng tấn công này được coi như chủ yếu vì là con đường gần nhất đi tới Nam Vang, và những sư đoàn trấn đóng khu này được coi như những sư đoàn thiện chiến nhất của quân đội Campuchia.

Hướng thứ tư, ở phiá nam, từ An Giang, Hà Tiên, được giao cho những lực lượng của quân khu IX và quân đoàn 2 hay binh đoàn Hương Giang mới được tăng phái từ quân khu IV. Binh đoàn này, do Nguyễn Hữu An tư lệnh, Lê Linh chính ủy, gồm những sư đoàn chính qui 304, 306 và 325, nhưng sư đoàn 306 được giữ lại làm “nghiã vụ quốc tế” bên Lào, cho nên binh đoàn được tăng cường thêm sư đoàn 8 của quân khu IX. Nguyễn Hữu An từng là trung đoàn trưởng sư đoàn 312 trong trận Ðiện Biên Phủ, sau này thay Hoàng Minh Thảo làm giám đốc Học Viện Quân Sự Cấp Cao. Cũng như tại mặt trận Tây Ninh, tại An Giang, quân Việt Nam chia quân tấn công hai hướng. Hướng thứ nhất do các sư đoàn 4, 330 cơ hữu của quân khu IX cùng những trung đoàn chủ lực các tỉnh An Giang, Ðồng Tháp... phụ trách, theo quốc lộ 2 tiến về hướng bắc tấn công Nam Vang. Hướng thứ hai gồm sư đoàn 325 và sư đoàn 8 tiến theo duyên hải về hướng tây đánh chiếm hải cảng Kompong Som. Sư đoàn 304 làm trừ bị, có thể được tăng cường cho quân đoàn 4 tấn công Nam Vang.

Sau ba ngày tấn công, tại hướng chủ yếu Tây Ninh, quân đoàn 4 với sự yểm trợ hùng hậu của không quân, trực thăng võ trang, pháo binh, hải quân, thiết giáp.., đã đánh bật được quân Campuchia ra khỏi các vị trí Năm Căn, Hoà Hội dọc theo tỉnh lộ 13, và các đơn vị của các sư đoàn 703, 340, 221 Campuchia phải rút về thành lập một tuyến phòng thủ mới tại Svayrieng. Nhưng sau khi bị đánh thua ở Tây Ninh, quân Campuchia đã bị mất tinh thần. Hơn nữa, khi phải chấp nhận một trận đánh qui ước với một địch thủ mà hỏa lực, quân số và kinh nghiệm chiến trường trội hơn quá nhiều, quân Campuchia tan rã nhanh chóng. Tuyến phòng thủ Svayrieng bị vỡ ngày 2-1-1979, và quân Campuchia lại phải rút về Preyveng và Neak Luong. Quân Việt Nam ráo riết truy kích bằng ba cánh. Sư đoàn 7 và sư đoàn 2 làm nỗ lực chính di chuyển theo quốc lộ 1, sư đoàn 9 tiến song song bảo vệ sườn phía nam, và sư đoàn 341 bảo vệ sườn phía bắc. Tới ngày 6-1-1979, những đơn vị đầu tiên của sư đoàn 7 chiếm được bờ phía đông của bến phà Neak Luong. Quân Campuchia trong khi rút lui vội vã đã không kịp thiết lập công sự phòng thủ. Ðêm hôm đó, cách bến phà khoảng hai cây số về phía nam, trung đoàn 113, trung đoàn 14 của sư đoàn 7 được tàu đổ bộ đưa sang bên kia sông, tiến chiếm luôn bờ phía tây của bến phà.

Sớm hôm sau, 7-1-1979, toàn bộ đội hình quân đoàn 4 rầm rộ vượt sông. Do sự tan rã nhanh chóng của lực lượng phòng thủ biên giới và ước tính chủ quan của Pol Pot, con đường từ Neak Luong về Nam Vang dài hơn năm chục cây số thênh thênh mở rộng, không còn lực lượng chống đối nào đáng kể. Quân Việt Nam, với xe tăng mở đường, ào ào tiến về Nam Vang bằng xe vận tải. 11 giờ sáng 7-1, đơn vị đầu tiên của Việt Nam vào đến Nam Vang, lúc đó đã là thành phố bỏ ngỏ. Những người duy nhất còn ở lại là đại sứ Ai Lao Khampha Vilachit với vài ba nhân viên sứ quán của ông ta.

Tại hướng tây bắc Tây Ninh, quân Việt Nam phát xuất từ những vị trí đã chiếm đóng từ tháng 11-1978 ở Snoul và Mimot bắt đầu cuộc tấn công ngày 30-12-1978. Sư đoàn 5 và sư đoàn 303 di chuyển dọc theo quốc lộ 13 về hướng bắc tấn công Kratié do sư đoàn 260 và 2 trung đ oàn địa phương Campuchia của đặc khu 505 phòng thủ. Ba ngày sau quân Việt Nam chiếm Kratié. Lúc đó, sư đoàn 302 tiến về phía tây đã chiếm được Kompong Cham. Hai sư đoàn 302 và 303 cùng quay lại đánh chiếm thị xã Chhlong đang do sư đoàn 603 Campuchia chống giữ. Ngày 4-1-1979, họ chiếm được Chhlong. Kể từ lúc đó, toàn bộ lãnh thổ Campuchia ở phía đông sông Cửu Long coi như bị mất.

Tại mặt trận phía nam, quân Việt Nam chỉ bắt đầu vượt biên giới ngày 3-1-1979 và từ An Giang, tấn công làm hai hướng. Sư đoàn 325 và sư đoàn 8 tiến về phía tây, dọc theo quốc lộ 2. Ngày 9-1, sau khi đánh tan sư đoàn 230, họ chiếm được Kampot. Ngày hôm sau, với sự trợ lực của hải quân, cánh quân này chiếm được quân cảng Ream và hải cảng Kompong Som. Hướng thứ hai, do quân khu IX phụ trách, tiến về phía bắc đánh chiếm hai thị xã Tani và Takeo. Các sư đoàn Campuchia trấn giữ quân khu Tây Nam như sư đoàn 2, 210, 230, 250, bị tan rã và rút lui vào rừng.

Sự thất thủ Nam Vang ngày 7-1-1979 đánh dấu sự sụp đổ của chính quyền Pol Pot. Quân Việt Nam không ngừng lại ở Nam Vang mà nhanh chóng tiến về phía tây. Trên đường tiến, họ bỏ qua các ổ kháng cự nhỏ của quân Khmer Ðỏ. Chỉ trong hai tuần sau, quân Việt Nam tiến sát tới biên giới Thái Lan và chiếm đóng hết những thị xã lớn, những tỉnh lỵ quan trọng của Campuchia. Dù cho lực lượng hai bên có chênh lệch ngay từ đầu, sự sụp đổ nhanh chóng của quân đội Campuchia vẫn làm ngạc nhiên nhiều người, kể cả những cấp lãnh đạo chính trị và quân sự Việt Nam. Vì thế mà họ đã không chuẩn bị kịp việc tiếp vận cho một địa bàn quân sự quá lớn. Nhiều xe tăng đã bị bỏ lại và bắn cháy trên đường tiến về hướng tây chỉ vì hết xăng giữa đường.

Chiến thắng này cũng bất ngờ với 66 đại biểu Campuchia được Việt Nam triệu tập đang họp ở Mimot ngày 5-1-1979
để bàn việc thành lập một đảng cộng sản Campuchia mới. Ðảng này lấy lại danh xưng Ðảng Nhân Dân Cách Mạng có từ 1951. Pen Sovan, một cán bộ Campuchia tập kết về Hà Nội năm 1954, đang mang quân hàm thiếu tá trong quân đội Việt Nam, được cử giữ chức chủ tịch đảng. Những ủy viên thường vụ của đảng gồm Hun Sen, Bou Thang, Chas Kiri, Heng Samin, Chea Soth. Ngày 8-1-1979, đài phát thanh Nam Vang loan báo Nam Vang đã được giải phóng bởi “những lực lượng cách mạng và nhân dân Campuchia”. Một hội đồng cách mạng được thành lập do Heng Samrin làm chủ tịch.

Khoảng mười ngày sau, hội đồng này ký một hiệp ước với Việt Nam, hợp thức hóa sự hiện diện của quân đội nước này trên đất Campuchia.

Đạt được chiến thắng về quân sự, nhưng Việt Nam bị thất bại về ngoại giao. Mười năm sau, dù đã bằng lòng rút quân khỏi Campuchia, Việt Nam vẫn là quốc gia lẻ loi nhất thế giới về ngoại giao. Chính quyền Heng Samrin, dù không tàn ác như Pol Pot, chỉ là một chính quyền bù nhìn, không được thế giới công nhận. Hai ngày trước khi Nam Vang thất thủ, sau khi đã mất phần đất phía đông sông Cửu Long, do lời khuyên của Trung Quốc, Pol Pot cho mời Sihanouk đang bị giam lỏng đến và nhờ ông này đại diện Campuchia tại ðại hội đồng Liên Hiệp Quốc để tố cáo và lên án hành động xâm lăng của Việt Nam. Ngày hôm sau, 6-1-1979, Sihanouk đáp chuyến bay Boeing 707 của Cục Hàng Không Dân Dụng Trung Quốc cùng các nhân viên của hai tòa đại sứ Trung Quốc và Nam Tư di tản sang Vọng Các. Vì thiếu chỗ, hai viên đại sứ phải nhường chỗ cho nhân viên rồi tự mình di chuyển đi Battambang bằng đường bộ.

Sáng ngày 7-1-1979, tin về quân đội Việt Nam đang vượt bến phà Neak Luong gây rối loạn trong thành phố Nam Vang. Toàn thể dân cư Nam Vang, gồm viên chức, cán bộ hay binh lính chỉ kịp rời thành phố bằng xe hơi hay xe lửa chạy về hướng tây khoảng một giờ đồng hồ, trước khi quân Việt Nam kéo đến. Ieng Sary cũng ở trong đám người này. Còn Pol Pot, Nuon Chia, Khieu Samphan, Son Sen trốn vào mật khu. Bốn ngày sau, Ieng Sary mới tới biên giới Thái Lan. Tại đây, Ieng Sary lên một máy bay của không quân Thái bay tới Vọng Các, và từ đó, sang Bắc Kinh.
Trong cuộc tiếp xúc với Ieng Sary ở Bắc Kinh ngày 13-1, Ðặng tiểu Bình không giấu được giận dữ. Ông ta trách cứ Khmer Ðỏ đã đẩy chiến dịch thanh lọc hàng ngũ đi quá trớn. Ông cũng nhắc lại thí dụ cộng sản Trung Quốc đã hợp tác với Quốc Dân Ðảng trong chiến tranh kháng Nhật, và khuyến cáo Khmer Ðỏ phải trọng dụng Sihanouk, tạm thời che giấu bản chất cộng sản, bắt đầu đề cao lòng ái quốc và chủ nghiã quốc gia.

Campuchia đã bị mất, Thái Lan trở nên một địa bàn chiến lược quan trọng để Trung Quốc có thể giúp đỡ cho Khmer Ðỏ tiếp tục chiến đấu. Ngay sau khi họp xong với Ieng Sary, Ðặng Tiểu Bình bí mật cử Geng Biao, ủy viên bộ Chính Trị, cùng thứ trưởng Ngoại giao Hàn Niệm Long sang Vọng Các hội đàm với thủ tướng Thái Kriangsak tại căn cứ không quân Utapao. Sau khi Việt Nam liên minh với Nga Xô và xâm lăng Campuchia, Thái Lan không còn giữ thái độ trung lập được nữa, Kriangsak đồng ý để Trung Quốc dùng lãnh thổ Thái Lan tiếp tế cho Khmer Ðỏ.

Trong khi đó, tại Nữu Ước, sau gần mười năm vắng bóng trên chính trường, ông hoàng Sihanouk tái xuất hiện, đại diện Campuchia đọc diễn văn trước đại hội đồng Liên Hiệp Quốc. Trong một bài diễn văn cảm động, ông lên án cả hành động xâm lăng của Việt Nam lẫn chế độ bạo tàn Pol Pot. Ông yêu cầu đại hội đồng ra nghị quyết buộc Việt Nam phải rút quân khỏi Campuchia. Dù được đại đa số đại biểu tán thành, nghị quyết này bị Nga Xô phủ quyết. Sau khi dự đại hội đồng, Sihanouk bí mật rời khách sạn, đến gặp đại sứ Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc Andrew Young, yêu cầu được tỵ nạn chính trị.

Yêu cầu của Sihanouk đã gây ít nhiều khó khăn cho Hoa Kỳ, vì Hoa Kỳ mới thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc chỉ có hai tuần, và Ðặng Tiểu Bình sắp sang thăm thân hữu Hoa Kỳ. Do đó, Hoa Kỳ tỏ vẻ ngần ngại. Trong khi đó, Pháp bằng lòng để Sihanouk định cư, nhưng lại cấm ông ta hoạt động chính trị. Người giúp giải quyết vấn đề tế nhị đó là Ðặng Tiểu Bình. Ông ta thuyết phục Sihanouk là Trung Quốc luôn luôn là bạn tốt của Sihanouk, và sẽ cảm thấy bị mất mặt nếu Sihanouk không chịu qua sống ở Trung Quốc. Ông bảo đảm với Sihanouk quyền tự do đi lại, và hứa áp lực với Khmer Ðỏ để hỏi thăm tin tức về những người con mất tích của ông. Cuối cùng Sihanouk đồng ý.

Trở lại chiến trường Campuchia, vì quân Việt Nam tiến chiếm toàn lãnh thổ Campuchia quá nhanh nên quân Campuchia chỉ bị tan rã chứ chưa bị tiêu diệt hẳn. Nhiều đơn vị đã tập trung lại thành những đơn vị nhỏ, tiếp tục đánh du kích và quấy phá.

Sau khi quân đoàn 4 Việt Nam chiếm được Nam Vang, các đơn vị của quân đoàn 3 và quân khu VII cũng vượt sông Cửu Long tiến chiếm và bình định lãnh thổ phiá bắc Biển Hồ và sông Tonlé Sap. Quân đoàn 2 và các sư đoàn quân khu IX sau khi chiếm vùng duyên hải cũng tiến dọc theo quốc lộ 4 về hướng bắc. Mấy ngày sau khi Trung Quốc tiến đánh biên giới Việt-Hoa, quân đoàn 2 rút về bảo vệ Hà Nội. Việt Nam bắt đầu tổng động viên, một số trung đoàn độc lập được tăng cường và đôn lên thành cấp sư đoàn, như trung đoàn Gia Ðịnh 1 và 2, Quyết Thắng 1 và 2, trở thành các sư đoàn 317, 318, để gửi sang tăng cường mặt trận Campuchia. Trách nhiệm chính trong công tác hành quân vẫn là các đơn vị của quân đoàn 4. Một phần vì đa số cán bộ cũng như binh sĩ những đơn vị này đã quen thuộc với địa thế chiến trường Campuchia từ thời chiến tranh Ðông Dương 2. Phần khác vì những vị trí và mật khu quan trọng của Khmer Ðỏ đều nằm trong vùng trách nhiệm của quân đoàn 4 và các đơn vị quân khu VII.

Trận đánh quan trọng đầu tiên trong chiến dịch bình định diễn ra tại Kompong Speu, trên quốc lộ 4 nối cảng Kompong Som với Nam Vang, cách Nam Vang khoảng 50 cây số. Thị xã này, sau khi quân Campuchia di tản vội vã, đã do trung đoàn 10 thuộc sư đoàn 339 của Việt Nam chiếm đóng. Nhưng ít ngày sau, các lực lượng còn lại của các sư đoàn Campuchia 703, 340, 221 từ tuyến phòng thủ Svayrieng chạy về đã tập trung lại và dự định tái chiếm thị xã. Ðược tin, bộ tư lệnh quân đoàn 4 điều động sư đoàn 341 đến tăng cường. Trận đánh bắt đầu ngày 21-1 đến ngày 7-2-1979 mới kết thúc. Dù bị tổn thất nặng, quân Việt Nam vẫn giữ được Kompong Speu, các lực lượng của 3 sư đoàn Campuchia bị tan rã, từ đó chỉ còn là những nhóm nhỏ tiếp tục đánh du kích.

Giữ vững Kompong Speu, bảo đảm được giao thông trên quốc lộ 4, quân Việt Nam tiến đánh căn cứ Amleng, nơi mà bộ chỉ huy quân sự của Pol Pot từ Nam Vang rút về trú đóng. Căn cứ này nằm trong một vùng rừng núi hiểm trở, cách Nam Vang khoảng 100 cây số đường chim bay về phía tây nam. Lực lượng tấn công gồm sư đoàn 2, sư đoàn 7, sư đoàn 9 của quân đoàn 4, được tăng cường thêm sư đoàn 5 của quân khu VII. Sau hai tuần tấn công, căn cứ Amleng bị tràn ngập và quân Việt Nam mở chiến dịch đánh chiếm thị xã Leach.

Leach là một thị xã nhỏ nằm gần quốc lộ số 5 là con đường từ Nam Vang đi Battambang, cách biên giới Thái Lan khoảng tám chục cây số. Trước ngày 7-1-1979, Leach được Khmer Ðỏ sử dụng làm căn cứ tiếp liệu. Ngay sau khi Nam Vang thất thủ, do quân Việt Nam chưa có đủ thì giờ để chiếm đóng hết các vị trí, Khmer Ðỏ dự định biến Leach thành một căn cứ phản công. Phần lớn những lực lượng còn lại được tập trung tại đây. Tuy quân số mang tiếng là gồm nhiều sư đoàn (264, 210, 104, 502, 260, 460), nhưng trên thực tế, mỗi sư đoàn chỉ có chưa tới một ngàn binh sĩ. Lực lượng phòng thủ cũng chỉ có vài khẩu pháo 105 ly và vài xe thiết giáp.

Ðể tấn công Leach, quân Việt Nam đã sử dụng một lực lượng lớn và tấn công làm bốn hướng:
  - Hướng thứ nhất, do sư đoàn 341 thay thế sư đoàn 330 giải toả quốc lộ số 5, đánh chiếm thị xã Pursat để từ đó         đánh vào mặt bắc của Leach.
  - Hướng thứ hai do sư đoàn 9 từ căn cứ Amleng mới chiếm được đánh vào phía đông.
  - Hướng thứ ba do quân khu IX phụ trách được tàu đổ bộ chở đến tỉnh Kokong, từ đó, tấn công mặt nam.
  - Hướng thứ tư, do sư đoàn 31 từ biên giới Thái Lan theo tỉnh lộ 56 đánh ngược về mặt tây của Leach.

Vì là trận quyết định, nên trận đánh kéo dài trên một tháng. Sư đoàn 341 bị tổn thất nặng trong khi giải tỏa đường số 5 và thị xã Pursat. Sau nhiều đợt tấn công khốc liệt, căn cứ Leach của Khmer Ðỏ bị sư đoàn 9 chiếm ngày 29-4-1979. Trận đánh tại căn cứ Leach là trận đánh có qui mô lớn cuối cùng trên đất Campuchia.

Sau khi Leach bị mất, các đơn vị còn lại của Khmer Ðỏ rút về các mật khu ở Pailin và Taxang sát biên giới Thái Lan. Một số khác phân tán thành những đơn vị nhỏ tiếp tục đánh du kích. Vì lòng thù hận và mối nghi kỵ lâu đời giữa hai dân tộc, và vì thái độ hống hách của các cán bộ lãnh đạo chính trị và quân sự của Việt Nam ở Campuchia, nên đội quân tan nát của một chính thể tàn bạo như Khmer Ðỏ vẫn còn khả năng quấy phá buộc Việt Nam, dù đang ở trong tình trạng kinh tế tồi tệ, phải duy trì một đạo quân chiếm đóng lên tới khoảng hai trăm ngàn quân kéo dài gần mười năm sau đó để cuối cùng vẫn phải rút về khi đế quốc cộng sản Nga Xô tan rã.