MẠNG LIÊN KẾT:

RADIO:
World Khmer Radio
VOKK Radio
RFA Khmer
VOA Khmer
RFI Radio France
SBK Radio 105 FM

KHMER NEWS WEBSITES
Khmer Kampuchea-Krom Federation
Prey Nokor News
KI-Media
Mọi thông tin xin liên
lạc email dưới đây: info@Khmerland.org

Dân Tộc Tự Quyết - Dân Quyền Tự Do -
Dân Sinh Hạnh Phúc
KHMERLAND
VIỆT NAM CHIẾM MỘT VỊ TRÍ CHIẾN LƯỢC QUAN TRỌNG
Ở ĐÔNG NAM CHÂU Á

Trích Trong: Một thời Nhiễu Nhương
Đăng ngày 11 tháng 1, 2010
Lê Thy
 
     Nói về chiến tranh Việt Nam thì không thể nào không đề cập đến hai nước láng giềng của Việt Nam là Lào và Kampuchea. Lào nằm ở phía Tây Việt Nam, chiếm một diện tích khoảng 91.000 dặm vuông với một dân số ước lượng 4 triệu người. Kampuchea có khoảng 7 triệu dân sống trên một lãnh thổ 70.000 dặm vuông ở phía tây nam Việt Nam
.
Việt Nam, Lào và Kampuchea quan hệ khắng khít với nhau về nhiều mặt. Trên phương diện địa lý Việt Nam, Lào và Kampuchea là ba nước sông liền sông núi liền núi. Ba nước chung một dòng sông Mekong, một dẫy núi Trường Sơn. Về mặt chính trị, từ xa xưa ba nước đã có liên hệ mật thiết với nhau khi thì hòa hiếu lúc thì tranh chấp, và Việt Nam luôn luôn giữ địa vị khống chế trên bán đảo Đông Dương. Dưới thời Pháp thuộc ba nước họp thành Liên Bang Đông Dương. Năm 1930 Cộng Sản, mặc dù toàn là người Việt Nam, thành lập “Đông Dương Cộng Sản Đảng” một phần do ý đồ của họ và một phần do chỉ thị của Đệ Tam Quốc Tế, và sự kiện này báo trước những hoạt động của Cộng Sản Việt Nam vượt ra ngoài lãnh thổ quốc gia trong suốt thế kỷ XX.

Về mặt quân sự thì kể từ khi Pháp tái chiếm Đông Dương sau khi Nhật bại trận năm 1945 , chiến tranh đã xẩy ra ở cả ba nước Việt Nam, Lào và Kampuchea. Sau này trong cuộc chiến tranh giữa Bắc Việt Nam và Nam Việt Nam chiến sự cũng đã diễn ra ở Lào và Kampuchea mặc dù lãnh thổ Việt Nam là chiến trường chính.Yếu tố địa- chính trị này đã được Cộng Sản Việt Nam nhận thức đúng đắn, khai thác triệt để, và vận dụng hiệu quả. Đối phương của họ, nhất là Hoa Kỳ, không làm như vậy phần vì không quan niệm đúng vấn đề, phần vì không thuyết phục được dân chúng của họ chấp nhận một thực thể địa lý cố hữu nghiệt ngã, và một thực tế chính trị phức tạp do Cộng Sản tạo ra cho nên đã đưa đến những biến cố bi thảm trên bán đảo Đông Dương.

Đối với toàn vùng Đông Nam Á, Việt Nam chiếm một vị trí đặc biệt. Việt Nam nằm giữa một khu vực địa lý gọi là “Ấn Trung” bao gồm cả vùng rộng lớn Miến Điện, Thái Lan, Việt Nam, Lào, Kampuchea, bán đảo Mã Lai và dẫy quần đảo hợp thành các nước Phi-lip-pin, In-đô-nê-xi-a. Do vị trí địa lý tự nhiên này mà nước ta đã là nơi giao lưu của hai luồng văn hóa lớn. Văn hóa Ấn Độ ở phía Tây và văn hóa Trung Quốc ở phía Bắc. Trong hai luồng văn hóa ấy văn hóa Trung Quốc có ảnh hưởng sâu đậm đối với nước ta.

Vị trí ven biển của nước ta cũng thu hút sự chú ý của các nhà buôn và truyền giáo Phương Tây. Vào hậu bán thế kỷ XIII Marco Polo đã đặt chân đến nước ta mà ông ta gọi là “Giao Chỉ Quốc” (Cauzigu). Ông ta đã ca ngợi nước ta là một đất có nhiều của cải, vàng ngọc, và hương liệu quý. Năm 1536 người Bồ Đào Nha chiếm Macao của Trung Quốc lập thương điểm ở đó, và vào khoảng 1540 thương nhân Bồ Đào Nha bắt đầu buôn bán với nước ta. Cuối thế kỷ XVI đạo Thiên Chúa bắt đầu du nhập Việt Nam.

Trên bình diện chính trị và quân sự, Việt Nam ở vào một vị trí chiến lược quan trọng hàng đầu ở Đông Nam Á. Người ta đã ví Việt Nam như một bao lơn nhìn ra Thái Bình Dương.

Ngay từ xa xưa vua chúa Trung Quốc kế tiếp nhau bành trướng thế lực xuống phương Nam với ý đồ đô hộ nước ta đồng thời khống chế biển Đông. Cuối thế kỷ XIX, vào những năm 1880 là lúc cực thịnh của thời đại đế quốc chủ nghĩa hầu như toàn thể vùng Nam Á và Đông Nam Á bị các nước phương tây chiếm cứ thì nước ta cùng với Lào, Kampuchea lọt vào tay Pháp. Sang thế kỷ XX các cường quốc thế giới như Pháp, Nhật, Anh, Mỹ, Nga, Trung Quốc, vì quyền lợi của họ, vào những thời điểm khác nhau, đều đã có mặt ở Việt Nam. Trong Thế Chiến II Nhật Bản đã chiếm Đông Pháp năm 1940 ngăn cản Đồng Minh sử dụng cảng Hải Phòng tiếp tế cho Trung Quốc đồng thời dùng xứ này như một bàn đạp mở các cuộc tiến công xuống Phi-líp-pin, Ma-la-xi-a, In-đô-nê-xi-a. Sự kiện rõ nét nhất nói lên tầm quan trọng của vị trí nước ta trong khuôn khổ Cuộc Chiến Tranh Lạnh giữa Liên-Xô và Hoa Kỳ sau Thế Chiến II là Hiệp Định Giơ-ne 1954 chia đôi Việt Nam. Kể từ đó ở Đông Nam Á, bắc Việt Nam là “pháo đài của chủ nghĩa xã hội” đối đầu với Nam Việt Nam là “tiền đồn của thế giới tự do”. Sau khi Cộng Sản làm chủ toàn cõi Việt Nam vào năm 1975 thì lại đến lượt hai nước Cộng Sản đầu đàn tranh giành ảnh hưởng ngay trên lãnh thổ Việt Nam cũng như Lào và Kampuchea. Cộng Sản Việt Nam chiếm Kampuchea năm 1978, và đáp lại để ủng hộ Cộng Sản Kampuchea, Cộng Sản Trung Quốc tiến đánh Việt Nam năm 1979.

Về mặt chiến lược toàn cầu Việt Nam có một lợi điểm cụ thể là vịnh Cam Ranh. Trong cuộc chiến tranh Nga-Nhật năm 1905 Hạm Đội Nga đã dùng vịnh này làm chỗ trú quân an toàn một thời gian trước khi giao tranh với Hạm Đội Nhật ở eo biển Đối Mã. Vào những năm 1960 khi Hoa Kỳ trực tiếp tham chiến yểm trợ cho Nam Việt Nam, Cam Ranh đã trở thành một căn cứ Hải Quân và Không Quân trọng yếu khiến cho cả Trung Quốc cũng phải lo ngại. Sau khi Cộng Sản nắm quyền trên toàn thể lãnh thổ Việt Nam thì Liên-Xô lại thay chân Hoa Kỳ sử dụng căn cứ Cam Ranh gây xôn xao cho các nước Đông Nam Á.
Cho đến bây giờ Việt Nam vẫn là một vấn đề trên bàn cờ thế giới mặc dù người Việt Nam trong quá khứ cũng như hiện tại, bất kể khuynh hướng chính trị như thế nào, đều muốn làm chủ vận mệnh đất nước mình.

Người Việt Nam luôn luôn tự hào là “Con Rồng Cháu Tiên”. Truyền thuyết ấy đã có từ lâu đời và niềm tin nòi giống mình không thua kém ai vẫn đậm nét trong tâm khảm người Việt Nam. Theo tục truyền người Việt Nam là dòng dõi vua Đế Minh, cháu ba đời vua Thần Nông bên Tàu. Đế Minh phong cho hai người con của mình mỗi người làm vua một phương: Đế Nghi làm vua phương Bắc, Lộc Tục làm vua phương Nam. Lộc Tục xưng là Kinh Dương Vương vào khoảng năm Nhâm Tuất 2879 trước Tây Lịch mở đầu đời Hồng Bàng lấy quốc hiệu là Xích Quỷ, một địa bàn rộng lớn bao gồm cả miền Nam Trung Quốc cùng với lãnh thổ của bắc phần Việt Nam và cực bắc trung phần Việt Nam bây giờ. Kinh Dương Vương lấy một thiếu nữ nhan sắc là Long nữ sinh được một con trai đặt tên là Sùng Lãm nối ngôi cha làm vua là Lạc Long Quân. “Lạc Long Quân lấy Âu Cơ là con gái Đế Lai,vua ở một nước láng giềng, đẻ ra một lần trăm cái trứng, sau nở thành trăm người con trai. Một hôm Lạc Long Quân nói với Âu Cơ rằng Tôi là dòng dõi Long Quân mà mình là dòng dõi thần tiên, ăn ở lâu với nhau không thể được. Nay trăm đứa con trai thì mình đem 50 đứa lên núi, còn 50 đứa để tôi đem xuống Nam Hải. Sau Lạc long quân phong cho người con đầu làm vua ở nước Văn lang, người ấy là Thủy tổ của giống Việt Nam ta vậy.” (8) Vị vua khởi thủy của nước Văn lang mở đầu triều đại Hùng Vương truyền đến đời thứ 18 mới hết.

Huyền thoại ấy đẹp quá song nhà viết sử Trần Trọng Kim đã nhận định: “Xét từ đời Kinh Dương Vương đến đời Hùng Vương thứ 18 cả thẩy 20 ông vua, mà tính từ năm Nhâm Tuất 2879 đến năm Quý Mão (258 trước Tây Lịch) thì vừa được 2.622 năm cứ tính hơn bù kém, mỗi ông vua trị vì được non 152 năm! Dẫu là người thượng cổ đi nữa thì cũng khó mà có người sống lâu như vậy. Xem thế thì đủ biết truyện đời Hồng Bàng không chắc là xác thực.” (9)
Tuy nhiên, nhận xét của sử gia Trần Trọng Kim không phải đã là một kết luận dứt khoát. Nguồn gốc dân tộc Việt Nam, cương vực nước Việt Nam dưới quốc hiệu đầu tiên là Văn Lang và thời kỳ hồng hoang của lịch sử Việt Nam kéo dài khoảng 2.000 năm từ lúc khởi thủy cho đến năm 208 trước Tây lịch lúc có cuộc xâm lược đầu tiên của Trung Quốc là một vấn đề vô cùng phức tạp từng gây nhiều tranh cãi.

Trước năm 1945 nhiều học giả Pháp đã nghiên cứu vấn đề này. Nói chung, phần đông học giả người Pháp chủ trương tổ tiên người Việt Nam từ Trung Quốc xuống. Sau khi Cộng Sản làm chủ miền Bắc nước ta vào năm 1954 các nhà nghiên cứu của Hà Nội căn cứ vào những di chỉ phát hiện được ở nhiều nơi trên lãnh thổ do Cộng Sản cai trị đã khẳng định “Việt Nam là một trong những quê hương của loài người” (10) nơi cư trú của bầy người nguyên thủy ngay từ thời đại đồ đá cũ cách đây 30 vạn năm và vào thời đại đồ đồng 4.000 năm trước đây Hùng Vương đã dựng nước Văn Lang, quốc hiệu đầu tiên của nước Việt Nam ngày nay. Vùng cư trú của cư dân nước Văn Lang, theo một kiến giải có thể chấp nhận được, bao gồm chủ yếu toàn thể bắc phần phía Việt Nam bây giờ cùng với một phần phía nam hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây của Trung Quốc. Vua Hùng đóng đô ở Phong Châu hiện nay là tỉnh Phú Thọ thuộc bắc phần Việt Nam. Từ địa bàn lập quốc nhỏ hẹp của triều đại Hùng Vương cư dân nước Văn Lang tồn tại, phát triển để rồi cuối cùng xác lập bờ cõi nước Việt Nam ngày nay.

Mốc phát triển đầu tiên là sự thành lập nước Âu Lạc năm 275 trước Tây Lịch khi Thục Phán, thủ lĩnh của một bộ tộc kế cận và rất có thể là cùng gốc gác với cư dân nước Văn Lang, đánh bại Hùng Vương thứ 18, sáp nhập lãnh thổ của mình với lãnh thổ nước Văn Lang làm một. Vào thời kỳ An Dương Vương tức Thục Phán làm vua ở nước Âu Lạc thì Tần Thủy Hoàng đã thống nhất thiên hạ ở Trung Quốc và một viên tướng của nhà Hán là Triệu Đà thừa cơ nhà Tần suy yếu đã giết hại các trưởng lại nhà Tần, lập ra nước Nam Việt kế cận nước Âu Lạc. Năm 208 trước Tây lịch Triệu Đà chiếm cứ nước Âu Lạc. Thời kỳ dựng nước của Việt Nam với hai quốc hiệu Văn Lang, Âu Lạc kế tiếp nhau kéo dài hơn 20 Thế Kỷ đã chấm dứt.
Ở nước ta ngoài người Việt Nam cũng gọi là Kinh thuộc chủng tộc Môn-gô-lô-ít phương Nam chiếm 85% dân số còn có khoảng 60 dân tộc khác cũng đã sinh sống từ lâu đời.

Tại bắc phần Việt Nam có một vài dân tộc thiểu số với dân số tương đối lớn và gần gũi với người Hoa về chủng tộc như Tày, Thái, Nùng, Mán, Mèo. Với con số ước lượng nửa triệu, người Tày còn gọi là người Thổ sống rải rác ở thượng du và trung du như Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hà Giang. Người Thái có khoảng 380.000 sống ở vùng tây bắc bắc phần Việt Nam và một vài tỉnh cực bắc trung phần Việt Nam nhưng tập trung nhất ở Sơn La, Lai Châu. Người Nùng chừng 300.000 đông nhất ở Móng Cái. Người Mán hoặc Dao hiện nay còn khoảng 180.000 lác đác ở các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lào Kay, Yên Bái. Người Mèo độ 200.000 sống ở các miền núi cao từ 1.000 mét trở lên thuộc các tỉnh Hà Giang, Lao Kay. Bên cạnh các sắc dân vừa kể còn có người Mường phỏng chừng 400.000 mà các nhà nhân chủng học cho rằng cùng gốc gác với người Việt Nam phần lớn sống ở Hòa Bình thuộc bắc phần Việt Nam và Ở Cao nguyên Trung Phần

Việt Nam có người Thượng gồm nhiều sắc dân như Bahnar, Jarai, Rhade, Churu, Koho v…v… thuộc chủng tộc Pô-li-nê-di. Ngoài ra còn có người Chàm cũng thuộc chủng tộc Pô-li-nê di hiện nay tập trung ở các khu đồng bằng thuộc hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận ở cực Nam Trung phần Việt Nam. Người Chàm còn khoảng 50.000. Trước khi bị Việt Nam thôn tính vào thế kỷ XVII nước Champa, quốc gia của người Chàm, đã hùng cứ trên một địa bàn mà ngày nay là một miền lãnh thổ của nước ta chạy dài từ Quảng Bình đến Bình Thuận.

Ở Nam Phần Việt Nam, nhất là ở Vĩnh Long, Trà Vinh, Sóc Trăng còn có người Khmer tức người Kampuchea thuộc đất Thủy Chân Lạp trước kia đã trở thành dân tộc thiểu số sau khi đất đai của họ đã bị các Chúa Nguyễn xâm chiếm vào thế kỷ XVII và XVIII.

Ngoài các dân tộc vừa kể còn có người Hoa đã cộng cư với người Việt từ lâu đời qua 1.000 năm đô hộ của Trung Quốc và những đợt di cư vì cảnh thay bực đổi ngôi ở nước họ. Người Hoa có mặt hầu như khắp nơi trên lảnh thổ Việt Nam, tập trung nhất ở các đô thị như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, đặc biệt là Sàigòn.

Đối với các dân tộc thiểu số, triều đình Việt Nam áp dụng một chính sách mềm dẻo nhằm mục đích thu phục họ. Trước hết các dân tộc thiểu số được hưởng sự tự trị tương đối rộng rải. Nhà nước phong kiến hoặc tìm cách biến các tù trưởng thành những quan chức cửa triều đình hoặc đòi hỏi sự thần phục của các tù trưởng đồng thời vẫn để cho các tù trưởng cai trị theo phong tục tập quán của mỗi sắc dân. Thứ đến nhà nước phong kiến ban thưởng chức tước, bổng lộc cho các thủ lĩnh để lấy lòng họ. Việc này thì thời nào cũng có nhất là vào những dịp các bộ lạc đã có những đóng góp tích cực vào các cuộc chiến thắng xâm lược phương Bắc. Sau nữa, vua chúa Việt Nam còn tìm cách kết tình thân gia qua việc gả công chúa cho các thủ lĩnh, đặc biệt dưới triều Lý việc đó đã trở thành thông lệ. Tuy nhiên, chính sách mềm dẻo như vậy không phải lúc nào cũng thành công vì trong lịch sử của ta đã có nhiều cuộc nổi dậy của các tù trưởng chống lại triều đình khiến vua chúa Việt Nam đã phải ra tay trừng trị. Người ngoại quốc như Trung Hoa và Pháp trong nhiều dịp đã tìm cách khai thác óc cát cứ của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam để thủ lợi.




email me